Posts Tagged ‘Research’

Đến Đà Lạt

Tỉnh Lâm Đồng nằm trên cao nguyên thứ ba và cao nhất của vùng đất Tây Nguyên, cao nguyên Lâm Viên – Di Linh (cao 1500 m so với mặt biển), 70% diện tích là núi rừng, phía bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía đông nam giáp các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận, phía tây giáp các tỉnh Bình Phước và Đồng Nai.

Phía bắc tỉnh là hai dãy núi đi song song từ đông sang tây, có đỉnh Chư Yang Sin cao 2.405 m, Yang Bông cao 1.749 m. Dãy núi phía nam, sát ngay Đà Lạt, có các đỉnh Đan Sê Na cao 1.950 m, Lang Biang cao 2.163 m, Hòn Nga cao 1.948 m. Giữa hai dãy núi này là nơi bắt nguồn của các dòng sông Đa Dung chảy vào Đồng Nai, sông Cáy chảy ra Nha Trang. Phía nam của hai dãy núi là cao nguyên Lang Biang, trong đó có Tp. Đà Lạt ở độ cao 1475 m. Phía đông và nam tỉnh có cao nguyên nhỏ Di Linh cao 1.010 m, khá bằng phẳng và đông dân cư, là nơi đầu nguồn của sông La Ngà chảy vào Đồng Nai.

Từ thành phố Hồ Chí Minh, đi ô tô theo quốc lộ 20 chừng 300 km là đến Đà Lạt. Con đường sẽ đưa du khách lên cao dần, cao dần và khi chạm vào Đà Lạt ở thác Prenn thì trước mặt du khách đã là ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Đi sâu vào thành phố Đà Lạt, du khách sẽ khám phá một “bảo tàng” của các thác nước, những hồ đẹp, thung lũng hoa và đồi cỏ.

Nếu đi theo đường 11 từ Phan Rang ngược sông Dinh lên, sau khi vượt qua những khu di tích lịch sử của nước Chămpa xưa và những cánh đồng khô ráo quanh năm, chúng ta đứng trên đèo Ngoạn Mục với bức tranh thiên nhiên hùng vĩ trước mắt.

Để phục vụ cho trung tâm nghỉ mát Đà Lạt, trước kia các phương tiện giao thông được khai thác tới mức tối đa, bất chấp những trở ngại về địa thế.

Đường bộ

Con đường đầu tiên phải kể đến là con đường mòn của htổ dân đã đưa bác sĩ Yersin, một nhà thám hiểm đi từ Nha Trang ngược lên núi theo thung lũng sông Đa Nhim đến Đơn Dương (Dran) qua Fimnom, lên đèo Prenn rồi đến Đà Lạt.

Tháng 10.1897, toàn quyền Doumer cử phái đoàn do đại úy pháo binh Thouard và ông Cunhac tìm hiểu Đà Lạt. Đến 1899, con đường đất từ Phan Rang lên Đà Lạt hoàn tất. Đó là con đường có 20 km đèo dốc quanh co trong một khung cảnh non nược hữu tình được gọi là đèo Ngoạn Mục (Bellevue) và đèo Dran dài 10km. (Quốc lộ 11 – Đà Lạt – phan Rang 108 km; Đà Lạt – Nha Trang 219 km).

Mãi đến năm 1932, đường sắt Sài Gòn lên Đà Lạt qua Bảo Lộc mới được hoàn tất. Nay gọi là quốc lộ 20. Đến tháng 2.1943, đoạn đường từ thác Prenn lên Đà Lạt được cải tiến, bỏ đoạn đường cũ thay đường mới, theo một sườn núi khác. Đoạn đường này có lợi điểm rút ngắn chỉ còn 8,6 km, thay vì 14 km như trước kia. đến 1970, quốc lộ 20 và đạon 21b nối liền quốc lộ 20 từ ngã ba Fimnom đến Dran được sửa thành xa lộ. Ngoài ra muốn liên với các tỉnh miền cao nguyên có đường đi Ban Mê Thuộc hay Quảng Đức qua ngã Fyan hoặc Di Linh.

Để đến với Đà Lạt, đừơng bộ đang chiếm cương vị độc tôn về phương diện giao thông hiện nay.

Đường hàng không

Đà Lạt có các đường bay nối liền với các nơi khác qua hai phi trường Cam Ly và Liên Khương.

 Phi trường Cam Ly

Cách Đà Lạt 5km về hướng tây. Trước kia nơi đây là phi trường quân sự. Trong thời gian chiến tranh leo thang, nơi đấy máy bay lên xuống liên tục để cung cấp những nhu cầu quân sự và là một thương cảng rau.

Phi trường Liên Khương

Cách Đà Lạt khoảng 30 km. Sau ba năm xây dựng, 1933 phi trường Liên Khương bắt đầu hạot động. Lúc đó phi đạo dài 700m được đáp bằng đất, chỉ đáp ứng cho loại phi cơ có trọng tải dưới 2 tấn.

1945, Nhật mở mặt trận ở Đông Nam Á, do nhu cầu chiến tranh đã tu bổ phi trường Liên Khương. Phi đạo lúc đó được cán đá để dùng cho các loại phi cơ chiến đấu của Nhật thời bấy giờ.

1960-1975, vì chiến tranh, phương tiện giao thông đường bộ bị gián đoạn, mất an ninh. Hành khách sử dụng đừơng hàng không tăng nhanh chóng. Để đáp ứng nhu cầu đó, phi trường đã mở rộng. Phi đạo được trải nhựa dài 1480m, rộng 40m, có thể sử dụng cho phi cơ 35 tấn trở xuống. So với phi trường Tân Sơn Nhất hay Đà Nẵng, phi trường Liên Khương chỉ ở vào vị trí rất khiêm tốn – Phi trường hạng 2.

Đường sắt

Trứơc kia nếu muốn thưởng thức vẻ huyền bí của núi rừng cao nguyên bạn có thể lên Đà Lạt bằng tàu hỏa . Bạn sẽ có một cảm giác độc đáo khi ở trên một con tàu dài ngoằn ngoèo đang hì hục leo lên những triền dốc cao. Núi rừng hùng vĩ lướt chầm chậm qua mắt bạn trong một cuộc gặp gỡ đầy lưu luyến. Thỉnh thoảng con tàu phải chui qua một đạon hầm tối tăm bí hiểm. Làm sao tìm lại được hương vị của một chuyến đi trên tuyến đường sắt Tháp Chàm (Tourcham) – Đà Lạt.

Đoạn đường này dài 84km, do người Thụy Điển thiết kế. Thụy Điển là nước có nhiều đường dốc, giàu kinh nghiệm về đừơng sắt có răng cưa (crémaillère). Chuyến tàu lửa đầu tiên lên Đà Lạt được khởi hành vào năm 1933.

Điều đáng buồn là cả một công trình vĩ đại và thơ mộng này hiện nay không còn nữa. Trong chiến tranh có một đoạn đường thiếu an ninh nên tuyến giao thông đường sắt không thể sử dụng được. Và đã trở nên hoang phế từ đó.

Ga Đà Lạt trước kia là một trong những ga xinh đẹp và độc đáo của Việt Nam nhưng nay hầu như tất cả đều chìm vào quên lãng.

<sưu tầm>

Truyền thuyết Đà Lạt

Đà Lạt nằm cheo leo trên cao nguyên lâm viên, nơi đây xưa kia là vùng đất của các bộ lạc, trong đó có bộ lạc Đạ và bộ lạc Lạch. Hai bộ lạc không biết đã tới đây lập nghiệp tự thuở nào. Họ chỉ biết rằng ngày đó khi tới đây, mỗi bộ lạc trồng một cái cây, Bộ lạc Đạ trồng cây cau, còn bộ lạc Lạch trồng cây trầu, hai bộ lạc cách nhau một ngọn núi đá vôi. Bây giờ cây cau đã lớn, thân cây phải mười người ôm mới xuể, mỗi năm cau trổ hoa, có trái, không ai dám trèo lên hái, chỉ nghe mấy cụ già trong bản kể lại, để trèo từ dưới đất lên ngọn cây, phải bới theo một tháng ngày cơm, trèo không nghỉ thì một tháng sẽ trèo tới ngọn, bởi thế nên lâu lắm rồi không có ai trèo lên hái cau nữa, cứ tới mùa trái chín, tự nó rụng xuống đất, khi trái rụng tới mặt đất thì đã ra mầm rồi, chỉ cầm đem cắm xuống đất là nó mọc thành cây mới. Hàng năm, cứ tới mùa cau chín, bộ lạc Đạ lại tổ chức trò chơi “hứng cau”. Trong vòng nửa con trăng, ai hứng được nhiều cau nhất sẽ là người thắng cuộc, phần thưởng cho người thắng cuộc là hai con trâu núi, một con voi và một con cọp.

Nói về cây trầu của bộ lạc Lạch, dây trầu của bộ lạc Lạch trồng dưới cây thông to nhất của ngọn núi, nhưng tới bây giờ, cây thông không còn nữa, lâu lâu chỉ nghe già làng say rượu rồi kể lại thôi, tụi con cháu có đứa tới gốc trầu tìm vết tích của cây thông, nhưng không thấy dấu hiệu gì hết, về đồn lên là già làng say rượu nói dóc, làm già làng chửi quá trời, từ đó hết ai dám hó hé về cây thông gốc trầu. Nhưng sự thật là có một cây thông như vậy, cây thông đó đã bị cây trầu bóp chết tự thuở nào, bây giờ gốc trầu đã thành một rừng trầu, ai lỡ đi lạc vô đó, hết vài tháng mới ra được. Còn nhớ Mọi Yến và Mọi Ly chơi trốn tìm, Mọi Ly úp mặt vô cột nhà rông trong bản đếm từ một tới mười, còn Mọi Yến thì chạy tuốt ra gốc trầu để trốn, và Mọi Ly tìm hông ra, đành chịu thua. Nhưng chờ hoài vẫn không thấy Mọi Yến ra, Mọi Ly khóc quá trời, cả bản đổ xô đi kiếm Mọi Yến, còn thuê người của bản Đạ qua kiếm phụ, ròng rã hai con trăng rồi vẫn bặt tin của Mọi Yến. Một buổi chiều tà, có một bà già ăn mặc rách rưới chống gậy đi xiêu vẹo và bản Lạch, bà già đi xăm xăm tới cột nhà Rông, chỗ mà Mọi Ly úp mặt đếm số, bà lão đập đập tay vào cây cột, miệng kêu: lon lon lon. Cả bản ngạc nhiên, trâu dừng gặm cỏ, bò ngước mắt nhìn, gà nhóc mỏ lên ngó, chó không sủa, ruồi ngừng vo ve. Mọi Yến đã về, thoát khỏi trầu mê cung. Cả bản giết trâu mở hội ăn mừng ba ngày ba đêm. Nguyên là Mọi Yến đi lạc trong mê cung trầu, tìm không thấy đường ra, đi loanh quanh tìm đường, sức cùng, lực kiêt, chỉ biết hái lá trầu mà nhai, cho nên mới mau già như vậy, và sau hơn hai con trăng lặn lội tìm đường, Mọi Yến đã thoát ra được mê cung trầu và trở về chiến thắng trong trò chơi trốn tìm năm xưa.

Năm ấy, bản Đạ Tổ chức cuộc thi hứng cau, lần này cuộc thi có tầm vóc liên bản, mời trai bản Lạch tham gia nữa. Từ sớm tinh mơ, khi con gà trống mắt nhắm mắt mở chuẩn bị ngoác mỏ gáy ò ó o thì trai của hai bản đã tập trung đầy đủ dưới gốc cau, mỗi người đội trên đầu một cái sọ dừa để làm mũ bảo hiểm, để phòng cau rớt trúng đầu, mà sọ dừa ở vùng này trồng không được, phải nhập từ dưới xuôi. Do đó, chỉ những người tham gia cuộc thi mới được già làng cho mượn sọ dừa để đội, còn những người không phận sự thì không được béng mảng tới gốc cau. Hôm nay dân làng cả hai bản tham gia lễ hội, không ai lên nương, cái rẫy không ai làm, con hươu, con nai không ai bắn, con cá dưới cái suối không ai câu, cái bụng sẽ bị đói nhưng cái cái miệng sẽ cười và cái mặt sẽ vui. Mặt trời đã đậu trên đỉnh ngọn núi đá vôi, cuộc thi tiếng cồng chiêng vang lên khắp một vùng, trai gái cả hai bản nhảy múa, mặt trời lên cao hơn ngọn núi một gang tay, cuộc thi bắt đầu. Cuộc thi sẽ kéo dài trong vòng hai con trăng, ngày hôm nay dân làng sẽ nghỉ ngơi ăn chơi nhảy múa, sang ngày hôm sau thì dân làng sẽ lên nương lên rẫy lại, còn đám trai đang hứng cau sẽ vẫn chờ cau rụng. Tới hôm cuối cùng của cuộc thi, dân làng cả hai bản lại mở hội trao giải thưởng cho người thắng cuộc. Bên bản Đạ có A Chào hứng được 92 quả cau, và bên bản Lạch có  K’Tắc hứng được 92,5 quả cau. K’Tắc hứng được nửa quả cau nguyên nhân là như vầy: Quả cau thứ 93 đang rơi xuống thì có một con ó bay ngang qua, đớp mất quả cau, K’Tắc chụp luôn nửa cái sọ dừa trên đầu, chọi con ó cái bốp, con ó đau quá, nhả ra nửa quả cau, còn nửa quả nó vẫn cố gặm bay đi liểng xiểng. Vì nửa quả cau này mà già làng của bản Đạ không biết chấm thế nào, già làng cho rằng nửa quả nên không tính, và xử hoà cho A Chào và K’Tắc. Bản Lạch không chịu, hai bên cãi nhau hết nửa con trăng. Cuối cùng bản Lạch không nhận giải và bỏ về, hai bản Đạ và Lạch thù nhau từ đó.

*********

Hai mươi mùa cây rừng thay lá, mối thù giữa bản Đạ và bản Lạch vẫn như ngày nào, người bản Đạ và người bản Lạch cứ gặp nhau là đánh nhau sứt đầu mẻ trán mới thôi, đánh mệt rồi, hẹn nhau mấy hôm khác lên đỉnh núi đá vôi đánh tiếp, họ đánh đến nỗi núi đá vôi bị mòn, trũng xuống, ngày nay người ta gọi là Thung Lũng Tình Yêu. Thực ra thì nơi đây chưa gọi là Thung Lũng Tình Yêu đâu, số là khi nơi này trở thành Thung Lũng, có hai gia đình hẹn ra đánh nhau, Một bên là Tốc Cai người của bộ lạc Đạ, một bên là P’Chu, người của bộ lạc Lạch. Tốc Cai đi săn trong rừng, bắt gặp một con thỏ, ông giương nỏ lên định bắn thì có con sâu bơ ở đâu rớt trúng mũi, làm ông giật mình, con thỏ nghe tiếng động, chạy mất, Tốc Cai liền rượt theo, con thỏ chạy theo hướng núi đá vôi, nó chạy lên đỉnh núi, khiếp, sao nhỏ mà chạy lẹ thế, Tốc Cai vừa thở hồng hộc vừa rượt theo vừa rủa thầm. Bốp, mặt mũi Tốc Cai tối sầm lại, cái lỗ mũi ăn trầu rồi, máu chảy đỏ lè. Tốc Cai sau khi định thần lại, ngó kỹ, thì ra tên vừa đụng mình là P’Chu, người của bản Lạch. P’Chu chạy lên núi đá vôi cũng vì đi săn, nhưng không phải P’Chu rượt thú mà bị thú rượt do vô tình đạp trúng đuôi con con gấu, quýnh quáng, P’Chu lại chạy lên núi đá vôi, con gấu thấy núi cao quá, nhắm leo không nổi nên quay về lâu rồi, còn P’Chu thì cứ mải chạy miết, và tông thẳng vô Tốc Cai, làm Tốc Cai dập mũi, còn P’Chu thì kiếp này không thể huýt gió được nữa do gãy một cái răng cửa. Cả hai đứng dậy thủ thế chuẩn bị đánh nhau. Nhắm tình hình không ổn, Tốc Cai đề nghị dời lại hôm khác đánh tiếp. P’Chu đồng ý, cả hai hẹn nhau ngày mai, khi ông mặt trời lên đầu ngọn tre, sẽ tới đây quyết đấu. Tối đó, Tốc Cai bị ngứa do sưng mũi, hồi chiều Tốc Cai chỉ nhai một nắm lá rừng rồi nhét vào mũi cầm máu, nhưng không nhớ là lá gì, bây giờ thì ngứa khắp mình mẩy, cứ gãi sồn sột hoài. Tốc Cai than vắn thở dài cả đêm, Thiết Mộc Chân là con trai đầu của Tốc Cai thấy thế, liền đề nghị để mai mình đi thay. Tốc Cai không đồng ý, nhưng tới gần sáng vẫn chưa hết ngứa đành đồng ý cho con mình đi chiến đấu bảo toàn danh dự thay mình. Nói về phần P’Chu, đêm đó P’Chu lên cơn sốt do gãy răng, mê sảng, cả người cứ nóng hâm hấp, miệng nói sảng, lảm nhảm tới sáng. Con gái của P’Chu là Hoa Mộc Lan thương cha, muốn bảo toàn danh dự cho gia đính mình nên đã cải trang thành con trai rồi lên núi đá vôi chiến đấu thay cha.

 Ông mặt trời đã đứng đầu ngọn sào, Thiết Mộc Chân và Hoa Mộc Lan đứng gườm gườm thủ thế, cả hai thét to một tiếng rồi nhào vô đánh nhau túi bụi. Thuở nhỏ, Thiết Mộc Chân theo cha đi săn, ông săn được con gì, nhiều hay ít cũng bắt Thiết Mộc Chân khiêng về, có hôm thì con thỏ, có hôm thì con chim se sẻ, có hôm thì con cọp, lần đó Thiết Mộc Chân kéo con cọp về nhà mà bở hơi tai, bỏ ăn hai ngày hai đêm để nghỉ mệt, từ đó Thiết Mộc Chân tập khiêng đá hàng ngày để có một cơ thể khoẻ mạnh, có thể vác con cọp về nhà mà không phải bỏ ăn. Về phần Hoa Mộc Lan, nhà chỉ có P’Chu là đẹp trai nhất nhà, P’Chu lại đi săn hàng ngày, nên mọi việc nặng nhọc trong nhà Hoa Mộc Lan đều làm hết, từ đốn củi, chặt cây, lợp nhà đến trồng sắn, tỉa bắp. Khi rỗi, Hoa Mộc Lan thường vào rừng vật nhau với gấu, với cọp rồi về, P’Chu mà biết chắc ông đã chết giấc tự đời nào. Hôm nay, Thiết Mộc Chân và Hoa Mộc Lan mới có dịp thi thô bản lĩnh tài năng, bụi bay mù mịt, nguyên một vùng bụi đá vôi phủ trắng xoá, làm cả hai bản tưởng là hôm nay có núi lửa hay động đất gì đó. Thiết Mộc Chân giở món sở trường là bưng đá ra, đá dưới chân cứ bị Thiết Mộc Chân bưng lên, rồi nhè Hoa Mộc Lan và chọi, Hoa Mộc Lan đâu có ngán mấy viên đá lẻ tẻ này, nàng thường bị gấu với cọp tát hoài, nên nàng tránh né những tảng đá của Thiết Mộc Chân một cách dễ dàng. Thiết Mộc Chân liên tục bị Hoa Mộc Lan vật uỳnh uỳnh xuống nền đá vôi, cả người ê ẩm, nhức mỏi toàn thân. Thật là một cuộc chiến đấu ngang tài ngang sức của cặp trai tài và gái sắc giả trai. Ông mặt trời đã leo xuống chân ngọn sào, rồi đi ngủ, ông trăng lên, chứng kiến cảnh đánh nhau của hai người, rồi ông trăng mệt, ông trời lại đến phiên gác mà Hoa Mộc Lan và Thiết Mộc Chân vẫn đánh nhau chưa xong. Hỡi ôi, núi đá vôi bây giờ chỉ còn trong lịch sử vì đã bị Thiết Mộc Chân cạy lên làm võ khí đánh Hoa Mộc Lan. Nguyên một vùng núi cao giờ đã bị trũng sâu xuống bằng một cây thông, xế trưa, khi mặt trời gần đứng bóng, trong khi né một tảng đá do Thiết Mộc Chân quăng tới, Hoa Mộc Lan làm đứt mất sợi dây mây buộc tóc, mái tóc dài óng ả gội bằng trái bồ kết nướng với nước suối rừng đã bị tung ra, Thiết Mộc Chân há hốc miệng, đứng sững người, tảng đá đang cầm trên tay rớt xuống cái bịch, trúng chân chàng, chàng chỉ việc la lên mà không cần phải mở miệng, vì miệng đã mở sẵn rồi. Trận đó Thiết Mộc Chân thua, nhưng bù lại, chàng lại hẹn với Hoa Mộc Lan con trăng sau sẽ gặp lại ở đây, vào đêm trăng tròn nhất. Núi đá vôi đã không còn, bây giờ nó đã trở thành thung lũng, và cũng là nơi tình yêu bắt đầu của Thiết Mộc Chân và Hoa Mộc Lan.

**********

Vào một đêm trăng sáng, chỉ có đôi trai gái đang yêu nhau ngồi dưới trăng. Từ ngày đánh nhau với Hoa Mộc Lan, đây là lần đầu tiên Thiết Mộc Chân hẹn gặp với Hoa Mộc Lan. Hôm nay chàng vận cái khố đẹp nhất chỉ dành cho ngày hội, thân hình lực lưỡng của chàng làm cho gió phải phát ghen. Hôm nay Hoa Mộc Lan vận một cái xà-rông mới, suối tóc dài óng ả, tay cầm một cành hoa, vừa đi vừa nhảy chân sáo. Mộc Chân đứng bên Mộc Lan, không biết nói gì, thời gian cứ thế trôi lặng lẽ, đêm đã dần khuya, sương xuống.. Chợt Mộc Chân cất tiếng hát:

Ơi cao nguyên cao nguyên em thương ai thương ai bên núi đang chờ ai.

Cháy lên ơi lửa thiêng, cháy mãi cho bóng em hiện ra.

Giữa ngọn lửa, em trao bầu rượu, em trao lời nói.

Nhớ. . .mãi. . . nhớ. . .

Lời nói, lửa cháy, rượu đắng ngày nào.

Còn đàn chim Chơ rao bay qua bay qua dưới bầu trời.

Còn dòng sông ChưPrông trôi qua trôi qua dưới mặt trời.

Còn thương em anh còn thương em mãi người ơi

 

Hoa Mộc Lan hát:

Em yêu cao nguyên cao nguyên đầy gió

Quê hương mênh mang điệu sáo buồn thương

Từng đêm nằm mơ thấy bóng anh về

Bâng khuâng trên tay chiếc vòng của em

Em trong tay anh mối tình dịu êm

Bài hát thay lời muốn nói, cứ thế, Mộc Chân và Mộc Lan hát tới sáng, đến khi giọng đã khàn, tiếng đã khan, cái cổ đã rát không còn phát âm được nữa thì hai người mới chịu chia tay, trước khi chia tay, Mộc Chân còn với vát được một câu:

Tái môi mím chặt chắt chiu

Để cho cay đắng buồn hiu xuôi dòng

Câu này có nghĩa là tối mai hẹn nhau ở bên dòng suối, tái môitối mai, Mộc Chân muốn hẹn Mộc Lan ra dòng suối hát hò tiếp, nhưng Mộc Lan nghĩ ngày mai có lẽ chưa lành giọng, và bên bờ suối lại có nhiều người qua lại, cho nên đáp:

Tìm Tiên trở lại Thiên Thai,

Rêu xanh đá trắng tơi bời bụi tan

Hang sâu im lặng tiếng đàn,

Một vùng hạc nội mây ngàn ngẩn ngợ

 

Trong câu này có chữ “trắng tơi“, nghĩa là tới trăng, tức là hẹn Mộc Chân con trăng tới sẽ gặp nhau ở trong hang, và đó chính là thác Hang Cọp. Nghe nhắc tới cọp, Mộc Chân bị ấn tượng bởi mấy lần vác xác cọp về nhà, bây giờ lại hẹn hò ở hang cọp, Mộc Chân rùng mình đứng ngẩn ngơ, nhưng không lẽ con trai bản Đạ lại nhát hơn con gái bản Lạch, để người khác mà biết được chuyện này chắc cả bản cười cả mấy con trăng chưa hết. Chàng gật đầu đồng ý.

Kể từ khi gặp Mộc Chân, Mộc Lan vui lắm, nàng làm gì cũng hăng say, cái cột nhà sàn bị mối mọt ăn mục, nàng vác rựa vào rừng đẵn một khúc cây to vác về thay cho cái cột cũ, vừa làm nàng vừa hát, thỉnh thoảng lại huýt sáo vang nhà, P’Chu tức lắm, vì ông không thể huýt sáo được nữa, nhưng không lẽ lại cấm con gái huýt sáo, ông hậm hực bỏ ra bờ suối, ôm theo cây đàn đá ra ngồi thở than tâm sự cho cái răng gãy của mình. Và ông cũng để ý tới sự thay đổi của con gái.

Về phần Mộc Chân, từ khi gặp Mộc Lan, chàng làm việc gì cũng chẳng để tâm, kêu chàng đốn cây về đẽo cái bậc thang thì chàng lại để nguyên cái cây thông như vậy mà đẽo, đẽo nguyên cây xong rồi mới đẵn một khúc về làm cái thang, báo hại chàng bị Tốc Cai mắng cho một trận vì làm chuyện phong lông. Rồi chẳng hạn như Tốc Cai bảo Mộc Chân lấy nước tưới cho nương ngô, chàng cứ thế mà múc nước đổ vào nương ngô cho tới khi con suối cạn nước, con cá thoi thóp thở, còn nương ngô thì thành ruộng lúa nước ở dưới xuôi. Tốc Cai để ý thấy Mộc Chân hơi khác lạ, ông nhớ hình như ông thấy hình ảnh này ở đâu rồi, nhưng không nhớ là ở đâu. Tốc Cai ra bờ suối ngồi suy nghĩ, chợt nghe tiếng đàn đá xa xa vọng tới, tiếng đàn chất chứa đầy nỗi niềm, than thở, u sầu, bi ai, ai oán. Chợt Tốc Cai vỗ đùi cái đét, nhớ rồi, hình ảnh của Mộc Chân hiện giờ chính là hình ảnh của ông cách đây mấy mươi mùa cây rừng thay lá. Hồi đó khi lần đầu gặp mẹ của Mộc Chân, Tốc Cai cũng lâm vô trạng thái mất hồn như vậy, vậy là Mộc Chân sắp lấy vợ rồi, ông khấp khởi mừng thầm.

Mộc Lan và Mộc Chân lén lút hẹn hò với nhau như vậy đã nửa mùa cây rừng rụng lá, Tốc Cai theo dõi và biết được con mình hẹn hò với con của kẻ thù, liền ngăn cấm, nhưng Mộc Chân vẫn lén lút gặp Mộc Lan. Còn Mộc Lan cũng bị cha nàng cấm đoán khi biết nàng yêu với Mộc Chân, cha nàng không cho nàng đi gặp Mộc Chân nữa, bắt suốt ngày đêm chỉ quanh quẩn ờ nhà. Mộc Lan buồn lắm, người heo hắt gầy mòn dần dần, nàng thường ra bờ hồ hát lên những bài ca buồn bã, để than thở cho số kiếp hẩm hiu, con chim trên rừng nghe tiếng nàng hót, ganh tỵ quá bay tới gần nàng để nghe, và lăn ra xỉu vì tiếng hát của nàng, con cá dưới hồ ngày nào cũng phải nghe nàng hát, nên nó càng lặn xuống sâu hơn, cả làng liên tục phải ăn chay, vì chim không bẫy được, không bắn được, cá không câu được, nàng đã làm cho chim sa cá lặn và cả làng lâm vào tình trạng đói. Ngày ngày, nàng vẫn đều đặn ra hồ ngồi than thở, cho đến một hôm, sức cùng lực kiệt, nàng chết bên bờ hồ, dân bản Lạch đem xác nàng chôn trên đồi thông, nơi đó có thông reo rì rào suốt ngày, nơi đó có cái nắng, có cái gió, có cái đó…

Về phần Mộc Chân, không được gặp người yêu, ngày nào Mộc Chân cũng ra ngoài khiêng đá và ném. Nghe tin Mộc Lan chết, chàng lại bưng đá ném, càng ném càng hăng, đống đá chàng ném càng ngày càng cao, và đống đá đó đã cao hơn bất cứ núi nào của vùng cao nguyên, cuối cùng, chàng kiệt sức mà chết dưới chân núi. Dân bản Đạ thương tiếc cho chàng và mối tình của chàng với Mộc Lan, đã đem chàng chôn gần bên mộ Mộc Lan, và đồi thông đó ngày nay gọi là đồi thông hai mộ. Còn núi đá Mộc Chân để lại chính là núi Langbiang, nơi năm nào Thiết Mộc Chân tưởng nhớ người yêu mà ném đá. Già Làng bản Đạ và già làng Bản Lạch xoá mối thù xưa, chung tay xây dựng một dân tộc trên cao nguyên này, gọi là Đạ Lạch, sau này đọc lái thành Đà Lạt. Câu cau là nguyên nhân gây ra hiềm khích giữa hai bản đã bị đốt trụi, rừng trầu nơi bà tám đi lạc cũng bị đốt trụi để khỏi có ai bị đi lạc và trở nên già như bà tám, lửa của cây cau và rừng trầu cháy rất lớn, làm cho dân các nước Miến Điện, Thái, Lào, Cam …tưởng là có núi lửa, suốt ngày cứ cúng Giàng cầu khẩn thần linh phù hộ. Ngày nay, di tích của cây cau và rừng trầu không còn nữa, nhưng nhắc tới Đà Lạt thì ai cũng biết.

<sưu tầm><dalatex.org>

[Một số ghi chú ngoài: K'Tắc tức Tắc Kè, A Chào tức Chào Mào]

Hometown

Nếu được hỏi bạn có biết gì về nơi bạn đã sinh ra, nơi bạn từng cùng lũ bạn rong chơi cởi truồng tắm mưa..bạn sẽ trả lời thế nảo? Còn tôi, bây giờ thì tôi mới biết được chút chút về nó, về Lâm Đồng, về Di Linh nơi ngày xưa tôi cũng ..cởi truồng tắm mưa.
Lâm Đồng thì có Đà Lạt nổi tiếng, muốn biết về nó thì dễ rồi. Tôi đã có những đường link vè lịch sử Đà Lạt đấy thôi. Còn Di Linh thì sao nhỉ? Cái tên nghe lạ lắm. Nó bắt nguồn từ một cái tên (cũng lạ hoắc): Djiring. Theo như một tài liệu của trang www.simonhoadalat.com thì Djiring có thể là tên một vị chủ làng ngày xưa có công lập nên cái buôn Thượng này. Có người lại nói nó có dụng ý ám chỉ một loại sáp ong ( Jrêng) vốn có rất nhiêu trong rừng nơi đây.
Địa danh Djiring đến năm 1958 được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đổi thành Dilinh cùng một trật với các địa danh Bảo Lộc, Đơn Dương, Liên Khương thay cho tên cũ Blao, Dran, Liên Khang.
Cao độ Dilinh so với mực nước biển là 1000 mét, trong khi đó Đà Lạt 1500 mét và Bảo Lộc là 850 mét, triền dốc đổ dài từ Đông sang Tây.
Vị trí này cách xa biển độ 60 cây số theo đường chim bay.
Di Linh nằm ngay cạch dãy núi Bra-Yang (1874m), núi Yang Doan (1812m) và núi Pantar (1654m). Ngày xưa nơi đây là một vùng lý tưởng để đi săn vào bậc nhất Việt Nam.
Di Linh còn có một số cảnh đẹp hùng vĩ như đèo Da-Trum (cao 1235 thước) ở 15 cây số về hướng Nam và đèo Yan-Kar (cao 1017 thước) cách quận Dilinh 19 cây số về hướng Đông Nam. Từ đèo Yan-Kar có thể nhìn về Phan Thiết và thấy biển Nam Hải.
Di Linh cũng có thác nước đẹp như thác Bobla (cách thị xã 6 cây số về hướng Nam) tại cây số 213 xa mặt quốc lộ 300 thước. Thác này cũng có sức nước đổ khá mạnh từ độ cao 30 thước rót xuống có thể sử dụng vào việc chế biến điện lực được.
Về nguồn gốc có thể tóm tắt thế này:
Ngày xưa, vùng Di Linh bây giờ là vùng cư ngụ của một bộ lạc tên là Srê, bộ lạc Srê bị người Chàm (thuộc Campuchia nay) đô hộ. Đến cuối thế kỉ XVIII khi quân Tây Sơn khởi nghĩa ở vùng Bình Thuận thì người Srê liên kết với quân Tây Sơn đánh đuổi quân Chàm và giải tỏa vùng Di Linh khỏi bị Chàm đô hộ. Sau này Srê chịu sự quản lý của triều đình Việt nam. Chính phủ vẫn tôn trọng quyền tự quyết của các địa phương, và chỉ hành xử quyền giám hộ mà thôi.
Đến thời Pháp thuộc, một bác sĩ người Thụy Điển, quốc tịch Pháp, tên Alexandre John Emile Yersin, khi thực hiện những chuyến công tác qua lại dọc bờ biển Trung Việt đã say mê những dãy núi mơ mông và huyền bí. Nên vào 7/1890, ông cùng một người dẫn đường tiến thẳng lên cao nguyên.
Có lẽ Yersin đã đi lối đường Tamon, đường mòn mà người Thượng Di Linh gọi là “Gun Phori” đi từ Phan Rí lên đến ấp Tam Bố gần giáo xứ Phú Hiệp quận Di Linh bây giờ, hoặc theo con đường nhỏ từ Phan Rí ngược dòng Sông Mao mà lên đến Lang Hanh để đi dần về hướng Di Linh.
Lần này ông không thám hiểm được nhiều vì bận nhiều công chuyện nên 3 năm sau ông lại tiếp tục cuộc thám hiểm này.
Sau nhiều lần ngược suôi vùng đất Di Linh ông đã đề nghị biến Di Linh thành một nơi nghĩ dưỡng cho các sĩ quan Pháp. Và sau đó, nơi đây được thành lập đơn vị hành chính lấy tên là tỉnh Đồng Nai Thượng (vì ở thượng nguồn sông Đồng Nai)
Đà Lạt khi ấy bắt đầu được để mắt đến. Lúc đầu có 2 vùng đất thuận lơi cho việc phát triển khu nghĩ dưỡng đó là vùng Dankia cách Đà Lạt bây giờ 13km về hướng Tây Bắc, nơi mà vào ngày 21/6/1893 Yersin và đoàn thám hiển lần đầu tiên đặt chân đến, và vùng Đà Lạt. Sau này Dankia không được chọn vì thiếu một yếu tố về địa tầng và nguồn nước.
Đến năm 1914 thì con đường nối SàiGòn, ĐàLạt hoàn tất và giữa lúc đại chiến thứ I diễn ra, công chức Pháp không thể về quê được nên đã dổ xô lên Đà Lạt nghĩ ngơi nhân các dịp Phục Sinh, Hiện Xuống…
Cùng với sự phát triển của Đà Lạt thì Di Linh cũng được để ý vì nó là nơi giao nhau của các tuyến đường: về phía Nam đến Sàigòn khoảng 220km, về phía Bắc lên Đà Lạt khoảng 75km, về phía Đông Nam đến Phan Thiết khoảng 97km, và về phía Tây Bắc đến Đắc Lắc khoảng 90km.
Một người Thượng có công rất nhiều trong việc vận động bà con dân tộc dồn sức xây dưng Di Linh là trưởng làng Đam Trang. Sau này nhà nước để tưởng nhơ ông nên đã đặt tên ông cho một con đường. Theo đường này thẳng sẽ đến Đắc Lắc (nhà tôi nằm trên đường này), bây giờ khi thị trấn phát triển, nó đã được đổi tên thành LýThường Kiệt.
Di Linh là một trong 2 nơi có trại điều trị bệnh Phong. Được Cha Cassaigne thành lập. Nơi đây là một trong những nơi đẹp nhất của Di Linh. Chính giữa Viện là nơi an nghỉ của Cha. Cha Cassaigne rất yêu thương người thượng. Cha ăn ở với họ và chịu đau đơn với họ và sau đó qua đời vì bệnh của họ – bênh phong.
<nguồn>

Return top
 
+(reset)-
CO.CC:Free Domain